Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni
“Lại có vô lượng vô số Đại Thanh Văn Tăng, tất cả đều hành A la hán ở Thập Địa; với ngài Ma Ha Ca Diếp làm thượng thủ”: trong Pháp hội còn có các bậc Đại Thanh Văn tu hạnh A la hán đã đạt đến quả vị Thập Địa, mà đứng đầu là Trưởng lão Đại Ca Diếp.
“A la hán” là tiếng Phạn (Arhat). Có ai còn nhớ ‗A la hán‘ dịch sang tiếng Anh là gì và có mấy nghĩa không? Người nào biết thì nên nói ra, không nên ngồi làm thinh như thế! Biết mà không chịu nói ra cho mọi người cùng nghe tức là ‗hà tiện‘ Pháp! („Hà tiện Pháp‟ có nghĩa là bỏn xẻn, không muốn chia sẻ sự hiểu biết của mình với người khác.)
“A la hán” là quả vị cao nhất trong Thanh Văn thừa, và có ba nghĩa:
- Ứng cúng (xứng đáng được nhận sự cúng dường của cõi người và cõi trời);
- Sát tặc (giết giặc phiền não lậu hoặc);
- Vô sanh (đã đoạn được sự sanh tử luân hồi).
“Tỳ kheo” (và „Tỳ kheo ni‟) cũng có ba nghĩa; đó là những nghĩa gì?
Đệ tử đáp: "Đó là Phá ác, Ma... ma sợ?"
Là ‗sợ ma‘? Hay là ‗ma sợ‘? Nếu quý vị đảo ngược hai chữ này thì ý nghĩa sẽ hoàn toàn khác hẳn. ‗Sợ ma‘ có nghĩa là quý vị sợ Ma vương; còn ‗ma sợ‘ tức là Ma vương sợ quý vị. Ở đây, từ ngữ mà chúng ta muốn nói đến là „bố ma‟ tức là Ma vương sợ quý vị, chứ không phải là quý vị sợ Ma vương. Ma vương sợ thầy Tỳ kheo; song phải là thầy Tỳ kheo tốt, có tu hành, có đạo hạnh, thì Ma vương mới nể sợ; chứ nếu là vị Tỳ kheo không tu hành, thì Ma vương chẳng những không sợ mà còn lấn lướt, quấy nhiễu nữa là khác! Hễ quý vị chăm chỉ tu hành thì Ma vương sẽ kính nể quý vị; còn nếu quý vị không tu hành, thì quý vị sẽ sợ Ma vương!
Ngoài hai nghĩa ‗Bố ma‘ và ‗Phá ác‘, chữ ‗Tỳ kheo‘ còn hàm nghĩa ‗Khất sĩ‘ (người đi xin).
„Thập Địa‘ là gì? Đó là Sơ Địa, Nhị Địa, Tam Địa, Tứ Địa, Ngũ Địa, Lục Địa, Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa và Thập Địa.
‗Thập Địa‘ được đề cập đến ở đây chính là Thập Địa của Bồ tát Đại thừa và "A la hán ở Thập Địa" có nghĩa là bậc A la hán đã chứng đắc cảnh giới Bồ tát Thập Địa.
Lúc giảng Kinh Địa Tạng, tôi đã nhiều lần giảng về thuật ngữ ―Thập Địa‖ này:
Kinh Địa Tạng, Phẩm thứ nhất: ―Địa Tạng Bồ tát chứng Thập Địa quả vị dĩ lai, thiên bồi đa ư thượng dụ‖. (Từ lúc Bồ tát Địa Tạng chứng quả vị Thập Địa đến nay đã nghìn lần lâu hơn con số tỷ dụ nêu trên.)
Có ai còn nhớ Thập Địa là gồm những gì không? Có lẽ
Quả Địa còn nhớ đấy. Quý vị có người nào còn nhớ không? Ai nhớ được thì hãy mau mau lên tiếng!
Đệ tử: Viễn Hành Địa.
Sư Phụ: Viễn Hành Địa ư? Okay! Thế dịch sang tiếng Anh là gì?
Đệ tử: Traveling Far.
Sư Phụ: Yes! Còn gì nữa?
Đệ tử: Happiness (Hoan Hỷ Địa), Leaving Filth (Ly Cấu Địa), Emitting Light (Phát Quang Địa), Blazing Wisdom (Diệm Huệ Địa), Invincible (Nan Thắng Địa), Manifesting (Hiện Tiền Địa), Traveling Far (Viễn Hành Địa), Unmoving (Bất Động Địa), Good Wisdom (Thiện Huệ Địa), Dharma Cloud (Pháp Vân Địa).
Sư Phụ: Yes, very good! (Chính xác, rất tốt). Đó gọi là Thập Địa.
- Sơ Địa, hay địa thứ nhất trong Thập Địa, gọi là Hoan Hỷ Địa. Bồ tát đạt đến địa vị này luôn luôn vô cùng hoan hỷ, vui vẻ.
Lúc Quán Thế Âm Bồ tát còn ở địa thứ nhất này, sau khi được nghe Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai tuyên thuyết Chú Đại Bi, thì Ngài liền chứng đắc quả vị Bát Địa, tức là đang từ Sơ Địa mà tiến vọt lên chứng đạt địa vị thứ tám là Bất Động Địa. Chỉ những Bồ tát đã đạt đến Bát Địa mới có Định lực chân chánh, mới thật sự không còn bị dao động.
Ở quả vị Hoan Hỷ Địa này, mọi lúc mọi nơi Bồ tát đều hoan hỷ giáo hóa chúng sanh. Nhờ luôn ở trong sự hoan hỷ nên Bồ tát có thể dứt sạch dần mọi cấu nhiễm dơ bẩn để chứng đắc địa thứ nhì - Ly Cấu Địa.
- Ly Cấu Địa. Tại Sơ Địa, tuy Bồ tát luôn luôn hoan hỷ nhưng vẫn chưa dứt sạch cấu nhiễm, chưa đạt được sự thanh tịnh. Đến Nhị Địa, Bồ tát mới tẩy sạch hết trần cấu nhiễm ô, được hoàn toàn thanh tịnh.
- Phát Quang Địa. Bởi Bồ tát đã hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch, cho nên có hào quang phát ra; vì thế Tam Địa được gọi là Phát Quang Địa.
- Diệm Huệ Địa. Trí huệ quang minh của Bồ tát ở địa vị này thì có rực rỡ hơn, tiến bộ hơn và thù thắng hơn một bậc so với ở Phát Quang Địa.
- Nan Thắng Địa. Trí huệ của bậc Bồ tát ở Ngũ Địa thì không có gì có thể so sánh được.
- Hiện Tiền Địa. Cái gì ‗hiện tiền‘? Ở địa vị này, hào quang trí huệ của Bồ tát luôn luôn hiện tiền. Tại các địa trước, có nơi Bồ tát có trí huệ quang minh, nhưng không phải đều luôn luôn hiện tiền; còn đến địa thứ sáu này thì hào quang sáng rỡ của trí huệ lúc nào cũng tỏ rạng.
- Viễn Hành Địa. Đến địa thứ bảy này thì ánh sáng trí huệ quang minh của Bồ tát không những luôn luôn hiện tiền, mà còn chiếu soi khắp cả Pháp Giới, nên gọi là Viễn Hành Địa.
- Bất Động Địa. Tại bảy địa trước, Định lực của Bồ tát vẫn chưa thể gọi là chân chánh đạt đến cảnh giới ‗tịch quang bất động‘; phải đến Bát Địa thì Bồ tát mới thực sự được ‗tịch nhiên bất động, cảm ứng toại thông‘. Tuy là ‗bất động‘ song Bồ tát vẫn có thể ứng hiện Bát Tướng Thành Đạo, và làm Phật trong hàng trăm cõi giới. Bấy giờ, ở quả vị Bát Địa, nếu Bồ tát muốn hiện thân đến thế giới khác để giáo hóa chúng sanh, thậm chí thành Phật, đều được cả.
Thế gian có những kỳ nhân ra đời trong một cái bọc, điển hình là Hư Vân Lão Hòa thượng. Khi chào đời, Ngài nằm gọn trong một cái bọc tròn trịa như quả cầu (ball) vậy. Trường hợp này gọi là sanh ra có ‗mặc y phục‘. Chào đời với ‗y phục‘ hẳn hoi là cảnh giới của hàng Bồ tát từ Bát Địa trở lên, khi các ngài thị hiện giáng sanh ở thế gian. Sinh ra mà có mặc y phục
tức là rất thanh tịnh, sạch sẽ. Các Bồ tát thuộc bảy địa trước thì không đến trần thế bằng cách này.
- Thiện Huệ Địa. Tại đây, trí huệ của Bồ tát là vi diệu nhất, hoàn hảo nhất.
- Pháp Vân Địa. Bậc Bồ tát đạt đến địa thứ mười này thì ví như áng mây lành bao phủ khắp thái hư, từ bi phù hộ và độ trì tất cả chúng sanh.
“Ma Ha Ca Diếp” là tiếng Phạn (Mahàkàsyapa). ‗Ma Ha‘ dịch là Đại; ‗Ca Diếp‘ dịch là Ẩm Quang.