Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni
Kinh Văn
Kinh Văn
“Ngài A Nan lại bạch Phật”: Ngài A nan chính là em họ của đức Phật, là con trai của vua Hộc Phạn. Là bậc đa văn đệ nhất trong hàng đệ tử của đức Phật. Sao gọi là đa văn? Chính là nghe và nhớ là đệ nhất. Ngài ấy vừa nghe qua nhớ mãi không quên. Tại sao ngài có trí nhớ siêu phàm như vậy? Bởi vì, ở quá khứ ngài đã tu định lực, tu rất nhiều, định lực đầy đủ, cho nên ngài không bị tán loạn. Vì không tán loạn nên khi nghe qua là ngài nhớ mãi không quên. Bởi thế, kinh điển đức Phật nói, ngài A nan nói lại không sót một chữ, toàn bộ kinh điển đều lưu xuất ra. Ngài A nan và đức Phật tướng mạo gần như giống nhau, đức Phật có ba mươi hai tướng tốt, ngài A nan có ba mươi tướng tốt, tướng mạo của ngài đặc biệt viên mãn. Cái tên A nan là được phiên âm từ tiếng Phạn có nghĩa Khánh Hỷ (Vui mừng). Sao gọi là vui mừng? Vì khi ngài ra đời cũng chính là ngày đức Phật thành đạo; ngày Phật thành đạo, cũng là ngày ngài ra đời nên gọi là Khánh Hỷ.
A Nan bạch đức Phật: “Thế Tôn”: sao gọi là Thế Tôn? Thế là thế gian, tôn là tôn quý nhất của thế gian và xuất thế gian. “Vị Đại Bồ Tát Ma Ha Tát này”: vị Bồ tát này; “ngài ấy tên là gì, mà khéo tuyên thuyết môn Đà la ni như thế?”: ngài ấy tên là gì?, ‗tuyên thuyết‘ có nghĩa là tuyên truyền, thuật lại, nói ra; là thần chú Đại Bi Đà la Ni, đây là nói về Đà la ni ở phần trước.
“Đức Phật bảo‖: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo ngài A nan; “Vị Bồ Tát ấy hiệu là Quán Thế Âm Tự Tại”: tên của vị Bồ tát này là Quán Thế Âm Tự Tại. Quán chính là quán sát, cũng chính là dùng năng lực trí huệ quán sát. Quán sát cái gì? Quán sát âm thanh của thế giới. Âm thanh thế giới chính là cảnh giới sở quán. Cảnh giới sở quán của ngài là gì? Đó là các loại cảnh giới của tất cả chúng sanh; bao gồm chúng sanh thiện, chúng sanh ác, chúng sanh cang cường, chúng sanh nhu nhược, đủ loại hình sắc; tất cả âm thanh của chúng sanh là cảnh giới Bồ tát này quán sát. Dùng trí huệ năng quán, quán sát cảnh giới của tất cả chúng sanh. Vì sao Ngài ấy có thể có được năng lực như thế? Vì ngài có đại định, cho nên được tự tại, tự tại này là gì? Cũng chính là biểu hiện của định lực. Nếu không có định lực thì không tự tại, không tự tại thì bị tám loại gió (Bát Phong) xoay chuyển.
Tám loại gió này đã giảng qua rất nhiều lần, tôi không biết quý vị có nhớ hay không? Nhưng hôm nay cũng có thể nói điều này một lần nữa. Tám loại gió chính là tám loại cảnh giới, người không có định lực khi gặp tám loại cảnh giới thì liền bị xoay chuyển, người có định lực thì không bị tám loại cảnh giới này xoay chuyển. Thời nhà Tống, Tô Đông Pha1 và ngài thiền sư Phật Ấn2 thường đàm đạo cùng nhau. Mỗi ngày Tô Đông Pha đều ngồi thiền ở Giang Nam Yển, cảm thấy cảnh giới của mình rất cao; cảm giác mình ngồi trên hoa sen vàng như như bất động, liễu liễu thường minh. Ồ! Loại cảnh giới này không có chỗ nào cao hơn! Liền viết ra bài thơ:
Khể thủ thiên trung thiên
Hào quang chiếu đại thiên
Bát phong xuy bất động
Đoan tọa tử kim liên.
Nghĩa
Khấu đầu đảnh lễ Đấng Pháp Vương
Hào quang tỏa sáng chiếu đại thiên
Tám gió thổi, tâm không động
Nghiêm trang ngồi trên sen vàng
Khể thủ thiên trung thiên: ‗Khể thủ‘ chính là khấu đầu, 'thiên trung thiên‘ là Phật; đức Phật là trời trên cõi trời, là thánh trên các bậc thánh, ở trên cảnh giới tối cao cũng không có ai cao hơn đức Phật, ở cảnh giới thấp nhất thì cũng không có ai thấp hơn đức Phật. Phật là tận hư không, biến khắp pháp giới, cho nên không có cao, không có thấp.
Tô Đông Pha hướng Phật đảnh lễ 'hào quang chiếu đại thiên‘: ông ta cảm thấy ông ta phát ra ánh sáng hào quang, hào quang này chiếu khắp trời đất, chiếu đến tam thiên đại thiên thế giới. Sau đó, ông nói tám gió thổi không động: Tám gió là gì? Bây giờ, tôi sẽ giảng để quý vị rõ hơn một chút: Tám loại gió là ― khen, chê, khổ, vui, lợi, suy, được, mất cũng có thuyết nói là phỉ báng, và danh tiếng‖.
Khen là gì? Chính là tán thán, khen ngợi. Ví dụ có người nói: ―Này anh, anh đúng thật là có tâm đại Bồ đề, anh thật sự là đại hộ pháp, công đức của anh rất lớn!‖. Bên trái có người tâng bốc, bên phải có người tâng bốc, không biết có tới bao nhiều người tâng bốc nữa, có thể tâng bốc đến trời, lên tới cả tầng trời tam thập tam, hay trời tứ thập! Lúc này quý vị cảm thấy: Ồ, mình không tệ! Nếu không, làm thế nào anh ấy có thể khen ngợi mình? Khi nghĩ như vậy thì lòng bay bổng theo mây, lên xuống hí hửng, con tim đập lộn nhịp không ngừng. Những người người ưa tâng bốc như vậy, sau khi được khen ngợi thì như lâng lâng, như ở trên mây. Đây chính là quý vị đã bị cơn gió khen ngợi thổi bay.
Chê, chính là chê cười, mỉa mai, châm biếm. Mỉa mai là gì? Khi quý vị học Phật thì họ dùng điệu bộ chua ngoa để nói: "Anh học Phật, ồ học Phật có gì tốt!". Anh ta nói với giọng dài như dao đâm vào tai, đó gọi là giễu cợt, mỉa mai. Nói chung, dù quý vị không muốn nghe nhưng họ vẫn nói, dù quý vị có vểnh tai hay bịt lỗ tai thì họ vẫn nói vậy. Điều đó làm quý vị mất bình tĩnh, một khi quý vị mất bình tĩnh, quý vị sẽ tức giận, ngọn lửa giận cao tận ba ngàn trượng. Đây là một cơn gió chế giễu khiến quý vị nổi giận lên.
Khổ có nghĩa là rất cay đắng, rất cay đắng, giống như khi ăn thứ gì vào quý vị thấy đắng thì rất khó chịu. Đối diện với khổ thì sẽ lo lắng, khi lo lắng thì tức giận, khi tức giận thì gần như toàn bộ máu trên người đều bị đốt khô, khi khô rồi thì miệng đắng ngắt, răng sẽ đau, tai sẽ đau,…, tất cả bệnh gì đều do đây mà đến! Cơn gió đắng này đã thổi quý vị vào bao nhiêu vấn đề, như cau mày, mờ mắt, điếc và đau răng. Đây là đau khổ!
Vui là niềm vui, hạnh phúc. Mọi người quý vị gặp đều là những người rất vui vẻ, mọi người đều đối xử tốt với quý vị, quý vị ăn ngon, mặc đẹp, sống tốt, đi lại bằng những chiếc xe sang, cho nên lúc này quý vị rất hạnh phúc. Niềm vui chốc lát làm quý vị quên đi bổn tâm của mình. Sống giữa niềm vui khiến cho quý vị đánh mất đi nhiệm vụ tìm đường trở về Phật quốc. Tất cả chỉ vì ngọn gió hạnh phúc, khiến người ta mê muội, như thể họ đã thành tiên hoặc thành Phật. Khi đó, quý vị sẽ quên tu hành, chỉ vì quý vị đã hạnh phúc! Hạnh phúc cũng là một cơn gió độc nên đừng nghĩ rằng hạnh phúc là tốt.
Lợi, tức là lợi ích, đạt được lợi ích. Khi quý vị mua cổ phiếu với giá 500 đô la nhưng ba ngày sau nó tăng gấp bốn lần, trị giá hai nghìn đô la, lần này được lãi rất nhiều. Quý vị nghĩ ―Ồ! Lần này tôi có thể giàu lên rồi‖. Điều này cũng là bị gió thổi lay chuyển.
Suy chính là suy bại. Ví dụ nhà quý vị có một trăm phòng nhưng bất chợt bị cháy và lan ra hết tất cả. Ngọn lửa thiêu rụi tất cả, cả ngôi nhà bị cháy hết, lúc này quý vị thấy rất tệ hại. Đây là suy.
Đắc chính là được. Khi quý vị đi trên đường nhặt được 500 đô la thì lòng rất vui.
Mất, sau khi quý vị có được rồi không lâu lại mất nên buồn, chợt vui đó, rồi lại buồn.
Hủy chính là hủy báng, phỉ báng; dự cũng chính là khen quý vị. Hủy-dự (hủy báng- khen ngợi) và xưng-cơ (khen chê) đều giống nhau, cho nên đổi-xưng cơ thay cho hủy-dự cũng được. Nếu quý vị không có định lực thì sẽ bị tám gió này cuốn bay,và ngược lại nếu quý vị có định lực thì bát phong đến bạn không bị dao động. Đây gọi là tám gió thổi không động.
Tô Đông Pha cho rằng mình ―bát phong suy bất động, đoan tọa tử kim liên‖: Ông ta cho rằng mình đạt đến trình độ như ngồi trên hoa sen màu tím, như như bất động, liễu liễu thường minh. Thật tuyệt vời! Ông ta nghĩ. Điều mình ngộ không thể dùng ngôn từ nào mà diễn tả được, chỉ mượn tạm bốn câu kệ để trình bày. Lúc này mới hạ bút viết rồi gửi đến thiền sư Phật Ấn nhờ ngài ấn chứng sở đắc của mình. Thiền sư Phật Ấn rất vui, sai thị giả gửi lại trả lại bài kệ, không nói gì chỉ viết bốn chữ ở cuối bài thơ. Bốn chữ đơn giản dễ hiểu, đó là: "Đánh rắm, đánh rắm‖. Tô Đông Pha xem xong. Hả! Tôi viết thơ hay như vậy, sao ngài lại nói tôi là ―đánh rắm‖? Thật bực mình!
Lúc này, không cần ―tám gió‖ hay ―một gió‖ mà chỉ cần hai chữ ―đánh rắm‖ của thiền sư đã làm Tô Đông Pha nhảy dựng lên. Ông ta đi vội vã qua sông từ Giang Nam đến Giang Bắc đến chùa Kim Sơn hỏi thiền sư Phật Ấn cho rõ ràng.
Vừa vào cửa liền tức giận nói: ―Này hòa thượng, sao thầy lại mắng tôi?"
Thiền sư đáp: "Ta mắng ngươi làm gì? Ai mắng ngươi?"
Đông Pha: Tôi làm bài thơ này là sự kiến giải sự tu hành của tôi, tôi tu hành đến trình độ viết bài thơ này, tại sao nói tôi đánh rắm?"
Thiền sư đáp: Ông nói ―bát phong suy bất động‖ sao tôi chỉ đề hai chữ ―đánh rắm‖ thôi mà ông đã liền nhảy dựng mà qua sông rồi.
Tô Đông Pha nghe nói vậy liền nghĩ: Ồ! Đúng! Đúng là chẳng ra làm sao cả, không có gì để nói. Đều là tại ta không có công phu; nếu có đủ công phu, tám gió không lay động, đánh hai cái rắm làm sao đã nhảy dựng lên?
Thế là Tô Đông Pha vội cúi đầu đảnh lễ, xin thiền sư chỉ dạy thêm, để về dụng công tu tập.
Vì sao Tô Đông Pha nhận được thơ phải lập tức qua sông từ Giang Nam đến chùa Kim Sơn ở Giang Bắc. Đó cũng chỉ vì công phu không tự tại mà thôi. Nếu như ông ta tự tại giống như Bồ tát Quán Thế Âm thì sẽ không vội vã đến hỏi cho ra lẽ. Lúc đó đánh rắm hay không đánh rắm cũng không quan trọng, muốn nói gì cũng được, tâm vẫn không lay động; Đó chính là công phu. Khi ấy Thiền sư Phật Ấn sẽ khâm phục ông. Nhưng hiện thực thì Tô Đông Pha đã gục ngã dưới hai chữ ―đánh rắm‖ của Thiền Sư.
“Cũng tên là Nhiên Sách”: vị Bồ Tát này luôn cầm một sợi dây, không phải Ngài Quán Thế Âm hiện tướng ―tứ thập nhị thủ‖ có một tướng cầm sợi dây Nhiên Sách sao? Sợi dây làm bằng lụa, Nhiên Sách chính là sợi dây này; “cũng gọi là Thiên Quang Nhãn”: cũng còn có tên gọi khác là Thiên Quang Nhãn.
―Thiện nam tử‖: Đức Phật gọi A nan là thiện nam tử. “Quán Thế Âm Bồ Tát thần thông oai lực không thể nghĩ bàn”: thần lực oai đức của ngài Quán Âm không thể suy nghĩ, tưởng tượng được, không thể dùng ngôn từ mà nói. “Trong vô lượng kiếp về trước”: trong vô lượng kiếp về trước, Ngài đã trải qua số kiếp quá khứ nhiều vô lượng vô biên; “từng thành Phật”: ngài đã thành Phật, “hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai”: ngài thành Phật tên là gì? Tên của ngài là Chánh Pháp Minh Như lai. “Vì nguyện lực đại bi”: vị Bồ tát này, vì không quên nguyện lực của mình, đây là lời nguyện đại bi của ngài trong quá khứ; “vì muốn làm duyên phát khởi cho tất cả các hàng Bồ Tát”: ngài muốn cho tất cả Bồ tát đều phát Bồ Đề tâm, hành Bồ tát đạo, “vì muốn an vui thành thục cho chúng sanh”: vì muốn đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sanh, “ngài mới giáng tích hiện làm Bồ Tát”: cho nên thị hiện làm bồ tát, ngài vốn là Chánh Pháp Minh Như Lai, nay là Bồ tát Quán Thế Âm.
1 Tô Đông Pha tức Tô Thức (Chữ Hán: 苏轼, 8/1/1037–24/8/1101), tự Tử Chiêm, một tự khác là Hòa Trọng, hiệu Đông Pha cư sĩ nên còn gọi là Tô Đông Pha, là nhà văn, nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc thời Tống. Ông được mệnh danh là một trong Bát đại gia Đường Tống.
2 Thiền sư Phật Ấn (1032-1098) là bậc danh tăng thời nhà Tống, pháp danh là Liễu Nguyên, tự Giác Lão, họ Lâm quê ở Nhiêu Châu, Phù Lương (xưa thuộc quận Bà Dương, tỉnh Giang Tây nay là trấn Cảnh Đức tỉnh Giang Tây)›