Đoạn

Đã giảng xong phần đề mục của kinh và người dịch của bộ kinh này. Bây giờ chính thức vào phần kinh văn.

Lược Giảng:

“Như thị ngã văn”:

‗Như thị‘ là tín thành tựu

‗Ngã văn‘ là văn thành tựu

“Như thị” có nghĩa là: đúng là như vậy, hoàn toàn đáng tin cậy. ‗Như‘ có nghĩa là bất biến, không thể nào khác được.

‗Thị‘ là như vậy, hoàn toàn là chính xác. ‗Như thị‘ nghĩa là hoàn toàn như thật, hoàn toàn đích xác, không gì thay đổi được. Mọi Kinh Phật đều mở đầu bằng bốn chữ “Như thị ngã văn”. Vì sao có nguồn gốc bốn chữ này? Bốn chữ này là do Tôn giả A Nan tiếp chỉ từ Đức Thích Ca Mâu Ni Phật lúc sắp nhập Niết bàn đã Di giáo lại.

Lúc Phật Thích Ca sắp nhập Niết bàn, tuy A Nan đã chứng đến nhị quả nhưng vẫn còn sự cảm động lưu luyến không dứt. Biết vậy, A Nan cầu thỉnh Phật phải trụ thế, chưa có thể viên tịch, nhưng vẫn không được. Cầu thỉnh không được thì làm sao? Ông ta khóc, khóc oà lên đầm đìa nước mắt, mọi cái đều quên hết. Vì sao vậy? Vì ông ta rất ái mộ Phật.

Quý vị xem trong ‗Kinh Lăng Nghiêm‘, A Nan vì sao xuất gia? Là vì thấy Phật ‗tướng hảo quang minh, có đủ ba mươi hai tướng tốt, và tám mươi vẻ đẹp‘. Ông ta liền sanh ái kiến và tự nhủ lòng: ‗Ồ, tướng hảo Đức Phật tốt như thế, tôi nguyện ở mọi lúc mọi nơi theo làm thị giả hầu cận Đức Phật, dẫu có khó nhọc bao nhiêu tôi cũng nguyện theo‘. Sơ tâm xuất gia vì lòng ái mộ như thế, nên lúc Đức Thích Ca sắp nhập Niết bàn, ông ta vẫn còn mang ái kiến, không muốn thấy có điều đó, nên liền khóc than cầu khẩn.

Như quý vị biết A Na Luật Tôn giả là một vị đệ tử bị mù, tuy bị mù nhưng trong tâm rất sáng tỏ. Lúc đó, A Na Luật vẫn biết Đức Phật Thích Ca sắp nhập Niết bàn, mà cứ thấy A Nan mãi khóc lóc không ngớt như thế, nên ông ta đến bên cạnh A Nan nói rằng:

Này A Nan! Ông khóc gì vậy?

A Nan nói: Đức Phật Thích Ca sắp nhập Niết bàn, làm sao thầy bảo tôi không khóc! Không có cách nào mà không khóc cả?

Tôn giả A Na Luật nói: Ồ! Bây giờ thầy đang có nhiều việc trọng yếu phải làm mà! Thầy khóc có ích lợi gì cơ?

Ngài A Na Luật nói vậy, A Nan cũng tỉnh ra một chút và ngớt khóc.

Ngài A Nan nói: À, có việc quan trọng, việc quan trọng gì?

Tôn giả A Na Luật liền nói: Đức Phật sắp nhập diệt, chúng ta phải thỉnh vấn, là sau này kết tập Kinh Tạng, thì tất cả những điều Đức Phật tuyên thuyết sau này, sẽ kết tập thành

Kinh điển thì phải mở đầu Kinh điển như thế nào?

A Nan đáp: Việc này quan trọng đấy, đó là việc phải làm, còn việc gì nữa không?

Tôn Giả A Na Luật nói: Lúc Đức Phật còn tại thế chúng ta được theo Phật mà an trú, sau này Đức Phật nhập Niết bàn rồi chúng ta phải ở trú xứ nào?

A Nan ngừng một lát rồi bảo: Ồ! Giờ tôi như lẩn thẩn, nếu thầy không bảo tôi có lẽ tôi không nghĩ ra. Việc này cũng khá trọng yếu đấy! Còn việc gì nữa không?

Tôn giả A Na Luật lại bảo rằng: Lúc Phật còn tại thế, Phật là Đấng Đạo Sư của chúng ta, sau khi Phật nhập Niết bàn, chúng ta nên tôn ai làm thầy? Chúng ta nên tiến cử ai làm lãnh tụ Tăng đoàn, một người đại biểu của Tăng già mà mọi người phải tuân thủ?

A Nan đáp rằng: Ồ! Thầy nói điều này cũng rất quan trọng, đó là điều thứ ba, còn có điều gì nữa không?

A Na Luật Tôn giả bảo: Điều thứ tư là lúc Đức Phật còn tại thế, có một số Tỳ kheo tha hóa, phạm giới gọi là ‗ác tính Tỳ kheo‘ thì Đức Phật có thể chế phục và giáo huấn được. Sau này Đức Phật đã nhập diệt thì các ‗ác tính Tỳ Kheo‘ này làm sao có biện pháp nghiêm trị?

Ngài A Nan đáp: À! Điều này cũng rất quan trọng, còn có vấn đề gì nữa không?

Tôn giả A Na Luật nói: Không còn nữa! Những vấn đề tôi muốn đề cập tôi đã nói hết. Còn chính thầy còn thắc mắc vấn đề gì nữa không? Tự thầy nghĩ lại xem!

Tôn giả A Nan đáp: Chính tôi cũng không còn vấn đề gì, bốn điều này đã đủ rồi!

Vì thế Tôn giả A Nan vội vàng đến chỗ Đức Phật mà thỉnh vấn:

Bạch Đức Thế Tôn! Ngài đã sắp nhập Niết bàn, bây giờ chúng con có mấy vấn đề thắc mắc, kính xin Đức Phật từ bi chỉ giáo.

Đức Phật bảo: Vấn đề gì, ông cứ trình bày ra!

Ton giả A Nan liền bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn! Lúc Ngài tại thế, Ngài có thể giáo hóa được hạng ‗ác tính Tỳ kheo‘, còn sau khi Ngài diệt độ rồi thì làm sao có thể hoán cải được họ. Dạ! Đây là điều thứ tư lẽ ra con không nên hỏi trước, nhưng cũng có thể làm điều thứ nhất để tham vấn Ngài.

Đức Phật đáp rằng: Ác tính Tỳ kheo làm sao chế phục ư? Các Ngài phải dùng pháp „Mặc tẩn‟ để bắt đầu hoán đổi họ.

Sao gọi là mặc? Mặc là im lặng, không có giảng giải gì thêm với họ. Tẩn là gì? Nghĩa là mọi người phải nên cho họ biệt lập, mọi người không được trao đổi, quan hệ gì với họ. Hãy dùng sự ‗im lặng sấm sét‘ của Đại chúng để giải hóa họ? Lời nói không lời ấy sẽ làm cho họ có một sức nén để bừng tỉnh! Điều này Đức Phật có dạy rõ trong Giới luật.

Đức Phật bảo: Còn có thắc mắc gì nữa không, ông cứ nói ra.

Tôn giả A Nan liền bạch: Bạch Đức Thế Tôn! Lúc Ngài còn tại thế. Ngài là Đấng Đạo Sư của chúng con, vậy sau khi Ngài diệt độ, chúng con phải tôn ai làm thầy? Chúng con có phải tìm một vị thầy nào khác để thọ giáo không?

Đức Phật bảo: Không cần! Sau khi ta diệt độ, các ông hãy lấy “Giới luật” làm thầy, lấy Ba La Đề Mộc Xoa làm thầy của các ông. Phàm là Tỳ kheo phải nghiêm trì Giới luật, lấy Giới luật làm thầy!

Tôn giả A Nan lại bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn! Lúc Ngài còn tại thế, chúng con được hầu cận bên Ngài, vậy sao khi Ngài diệt độ chúng con biết dời đến trú xứ nào mà cư trú?

Đức Phật dạy: Sau khi Ta diệt độ, các ông hãy y theo ‗Tứ Niệm Xứ‘ mà an trú. Tứ Niệm Xứ như ta đã từng dạy, các ông phải dùng ‗bốn loại quán‘ này để an trú, ngỏ hầu tiến xa trên lộ trình đạo nghiệp.

A Nan bạch Đức Phật tiếp: Con còn có vấn đề này nữa, vấn đề này rất trọng yếu hơn các vấn đề trước.

Đức Phật bảo: Vấn đề gì nữa, ông cứ nói ra.

Tôn giả A Nan liền bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn! Tất cả những lời dạy của Ngài được tuyên thuyết trong đời này. Sau khi Ngài nhập diệt, chúng con phải kiết tập Kinh điển, lúc biên tập chúng con nên dùng chữ gì để mở đầu các Kinh điển, xin Ngài Di giáo.

Đức Phật liền dạy: À! Vấn đề này? Ông nên dùng bốn chữ ‗Như Thị Ngã Văn‘ (Tôi nghe như vầy) để làm sự mở đầu cho các Kinh điển.

Vì vậy, nên tất cả các Kinh Phật hiện giờ đều mở đầu bằng ‗Như Thị Ngã Văn‘ (Tôi nghe như vầy). Nghĩa là tất cả những Kinh pháp này là đích thân A Nan tôi tận tai nghe Đức Phật tuyên thuyết. Tất nhiên Tôn giả A Nan là ‗Đa văn đệ nhất‘ nên Đức Phật đã mật ý phó chúc cho A Nan ‗tái phát âm‘. Vì Tôn giả A Nan có một công năng kỳ lạ mà không ai có: Đó là một điều nghe qua đều nhớ rõ mồn một, gọi là ‗quá nhĩ bất vong‘, không bao giờ quên sót.

Bốn chữ ‗Như Thị Ngã Văn‘ này có 3 ý nghĩa. Thứ nhất là khác với ngoại đạo.

Thứ hai tránh tranh luận. Thứ ba là đoạn lòng nghi.

Thứ nhất là khác ngoại đạo: Sao gọi là khác ngoại đạo? Vì tất cả những kinh điển của ngoại đạo. một khi mở đầu thường dùng hai chữ A (無) và ÚM (有). ‗A‘ nghĩa là ‗Vô‘.

‗Úm‘ nghĩa là ‗hữu‘, mở đầu liền nói ‗Vô hữu‘ hoặc ‗hữu vô‘.

Ngoại đạo có kiến giải rằng, tất cả vạn hữu có hai đạo lý, một là ‗hữu‘ và một là ‗vô‘.

‗Hữu‘ có nghĩa là chấp thường.

‗Vô‘ nghĩa là đã chấp đoạn.

Nói như vậy thì bất kể cái gì, không phải là ‗vô‘ thì nghĩa là ‗hữu‘ mà không phải là ‗hữu‘ thì là ‗vô‘. Nói tóm lại là không thể chấp nhận hai phạm trù ‗hữu vô‘ này cũng tức là không thể đưa ra hai kiến giải một đằng là ‗đoạn kiến‘, một đằng là ‗thường kiến‘

Ở đây nói ‗Như Thị Ngã Văn‘ này cũng không phải chấp đoạn, cũng chẳng phải chấp thường, cũng không phải là ‗hữu‘ chẳng khẳng quyết là ‗vô‘. Đó là sự khác nhau với kiến giải ngoại đạo là ở chỗ này vậy.

Thứ hai là tránh tranh luận.

Lúc ấy, Tôn giả A Nan chỉ mới chứng Nhị quả Tư Đà Hàm, tuy về sau lúc kết tập Kinh Tạng A Nan đã chứng được Tứ quả A La Hán, nhưng cũng là một vị A La Hán rất nhỏ tuổi. Trong lúc các vị như Đại Ca Diếp, Tu Bồ Đề đều là các vị trưởng thượng, tuổi cao tác lớn, lạp tuế cao thâm, đức độ tròn đầy. Vì A Nan là người tuổi còn trẻ như thế, nên lúc thăng tòa kết tập Kinh Tạng, thì sợ trong đại chúng có người tranh chấp. Bạn cũng muốn là đệ nhất, tôi cũng muốn là đệ nhất, nhưng vì ngôi ‗đệ nhất‘ chỉ có một người, không thể có nhiều người. Vậy thì nhiều vị A La Hán như thế sẽ tiến cử vị nào? Đề cử người tuổi lớn thì sợ người tuổi nhỏ không cảm phục, chọn người tuổi nhỏ thì người tuổi lớn không bằng lòng, chọn người trung niên thì cũng chẳng biết chọn ai là hay nhất? Cho nên sẽ không có cách nào sẽ xử lý được sự kiện này, nếu như Đức Thế Tôn không Di huấn lại.

Như thế nên dùng bốn chữ ‗Như Thị Ngã Văn‘ (Tôi nghe như vầy) nghĩa là điều ấy không phải là ý bạn, cũng chẳng phải là ý tôi mà cũng chẳng phải ý của bất cứ một ai cả. Đó là tất cả những điều mà Đấng Đạo Sư tuyên thuyết, nay được kết tập mà không một ai có quyền ‗can gián‘ vào đó. Bạn cũng không phải là đệ nhất, tôi cũng không phải là đệ nhất, không có đệ nhất nên mọi người không có sự tranh chấp gì cả.

Thứ ba là đoạn các nghi.

Bốn chữ ‗Như Thị Ngã Văn‘ này là được Đức Phật phó thác Di huấn lại. Cũng có nghĩa là những điều sau này được chép lại trong Kinh điển là điều ‗chắc thật‘. Đức Thế Tôn Di huấn là bốn chữ ‗Như Thị Ngã Văn‘, trong mật ý là Đức Phật đã tin chắc và xác quyết lại một lần nữa, là những Kinh điển sau này được Tôn giả A Nan ‗tái thuyết‘ thì đều là sự thật. Vì Bảo Tạng Kinh trong ‗Tạng thức ký ức‘ của A Nan cũng là Bảo Tạng Kinh mà Đức Thế Tôn đã từng tuyên thuyết.

Vì thế bốn chữ này cũng là đại biểu cho „Kim khẩu‟ của Đức Phật, nên trong Tăng đoàn và chúng sanh về sau không ai còn có thể thắc mắc, hay nghi hoặc những điều trong Kinh Tạng nữa.

“Như Thị” là tín thành tựu. “Ngã Văn” là văn thành tựu. “Nhất thời” là thời thành tựu.

“Thích Ca Mâu Ni Phật” là chủ thành tựu.

“Tại Phổ Đà Lạc Già Sơn” là xứ thành tựu.

‗Lục thành tựu‘ này là một sự ‗xác quyết chắc thật‘ về những gì xung quanh một Pháp Hội mà Đức Thế Tôn đã từng thuyết pháp.

“Phổ Đà Lạc Già” là tiếng Phạn. Trung Hoa dịch là

‗Tiểu Bạch Hoa‘, vì trên núi này có nở một loại hoa Tiểu Bạch nên gọi núi này là Tiểu Bạch Hoa Sơn hay còn gọi là Phổ Đà Lạc Già Sơn.

“Quán Thế Âm Bồ Tát cung điện”: đó là cung điện thị hiện của Đức Quán Thế Âm.

“Bảo Trang Nghiêm Đạo Tràng Trung”: đạo tràng nơi cũng điện Bồ tát Quán thế âm tại núi Phổ Đà có tên là Bảo Trang Nghiêm.

“Toạ bảo sư tử toà”: đức Phật ở trên núi này, ngồi trên toà sư tử, ―chỗ ấy toàn dùng vô số ngọc báu ma ni để trang nghiêm‖: toà sư tử này đều dùng vô số thất bảo châu để trang nghiêm, tạo thành. “tràng phan làm bằng trăm thứ quý báu khác”: có trăm loại tràng phan báu, “treo xung quanh”: treo ở xung quanh.

Ở trong đạo tràng này đều làm bằng thất bảo rất trang nghiêm, xung quanh treo rát nhiều tràng phàn làm bằng trăm thứ quý báu. Chính trong đạo tràng này Đức Thế Tôn ngồi trên bảo tòa Sư tử để đăng đàn thuyết pháp.